Các bằng chứng cho thấy nhạc Tango đã được viết thành lời và biểu diễn trên sân khấu tại
Bản nhạc Tango cổ nhất còn được lưu giữ được viết vào những năm 1890s bởi một nghệ sỹ dương cầm Rosendo Mendizabal, có tên là El Entrerriano. Từ sau thời kỳ này, các bản nhạc Tango bắt đầu được sáng tác, ghi chép một cách chuyên nghiệp hơn.Các hình thức biểu diễn nhạc Tango cũng phát triển đa dạng hơn và thường bao gồm một ca sỹ hát cùng với cây đàn ghi ta hoặc là một ban nhạc hoặc là độc tầu với đàn dương cầm.Các bản nhạc Tango vào thời kỳ này mang nặng âm hưởng Tây Ban Nha và không có các nhạc cụ đặc trưng của nhạc Tango hiện thời.
Bản nhạc Tango nổi tiếng đầu tiên được viết vào năm 1905 do Angel Villoldo - một ca sỹ kiêm nghệ sỹ ghi ta. Đó là bản Elchoclo, một trong những bản nhạc Tango đặc trưng nhất và Tango nhất. Villoldo là một nhạc sỹ có ảnh hướng lớn tới dòng nhạc Tango, rất nhiều bản nhạc của ông vẫn được chơi cho tới ngày nay. Điều thú vị là ông viết El choclo để sử dụng cho một vở hài kịch do ông diễn , choclo có nghĩa là hạt ngô. Tuy nhiên, lời bài hát của ông nhanh chóng bị quên lãng và được thay thế bằng các lời hát hấp dẫn và trữ tình hơn vào những năm 1940 và El choclo theo đó trở thành một bản nhạc Tango bất hủ.
Khi những người Ý nhập cư vào Buenos Aires, họ đem đến cho Tango một âm hưởng mới, dưới ảnh hưởng của những bài hát Neapolitan cùng một phong cách chơi violion trữ tình hơn khiến cho các bản nhạc Tango trở nên ngọt ngào hơn.
Năm 1910, Bandoneon được nhập cảnh vào
Năm 1912, Tango ghi bản nhạc đầu tiên Juan Maglio, "Pacho", nhạc sỹ bandoneon. Bản nhạc chơi bằng bandoneon - nhạc cụ chính cùng với sáo, vĩ cầm và ghi ta. Sự thành công vang dội của bản nhạc đã biến Bandoneon trở thành một nhạc cụ quan trọng của Tango.
Sự thành công của nhạc Tango luôn đi cùng với điệu nhảy Tango và cũng chính điệu nhảy Tango đã giới thiệu dòng nhạc Tango với thế giới. Những người
Quay trở lại Achentina bằng bộ cánh mới, Tango trở thành niềm kiêu hãnh của người dân Achentina. Các giai điệu Tango tràn ngập đường phố
Carlos Gardel trở thành một biểu tượng âm nhạc của thế giới sử dụng tiếng Tây Ban Nha. Cuộc đời đầy đau khổ của ông - một đứa con không được thừa nhận của một nghệ sỹ Pháp nổi tiếng, tính cách nhân hậu, tài năng soạn nhạc, cái chết thảm khốc trong vụ tai nạn máy bay ở tuổi 44 khi tài năng đang nở rộ, và tất nhiên, cùng vơi giọng hát tuyệt vời của ông đã khiến ông trở thành một người hùng của thế giới Tango, một biểu tượng sống mãi trong lòng người dân Buenos Aires.
Năm 1916, Roberto Firpo, một nghệ sỹ dương cầm nổi tiếng, người đứng đầu trong các ban nhạc Tango thành công thời bấy giờ, người đã tạo ra một ban nhạc Tango chuẩn bao gồm 2 bandoneon, 2 vĩ cầm, một piano và double bass – sau khi nghe một hành khúc của một người Uruguay tên Gerardo Mattos Rodriguez đã quyết định sử dụng các nhạc cụ trên cho các bản nhạc Tango. Kết quả là bản nhạc Tango nổi tiếng nhất mọi thời đại đã ra đời, La Cumparsita. Sau này Pascual Contursi đã viết lời cho bản nhạc- một câu chuyện tình đau thương, sau đó được Gardel thu âm, đã khiến La Cumparsita trở thành bản nhạc được chơi bởi mọi ban nhạc Tango trên thế giới và trở thành Biểu tượng của Tango.
Hầu hết các nhạc sỹ Tango thời kỳ đầu đều là những người tự tìm đường đến với Tango. Từ những năm 1920s, các nhạc sỹ được đào tạo chuyên cho Tango mới bắt đầu xuất hiện, một trong những nhạc sỹ nổi tiếng đó là nhạc sỹ dương cầm Julio De Caro. Ban nhạc nổi tiếng của ông vào những năm 1920 và tiếp theo là nhạc sỹ bandoneon Pedro Laurenz vào những năm 1930, giới thiệu những bản nhạc Tango với tiết tấu chậm hơn, phức tạp và thanh lịch hơn nhưng cũng xa rời hơn với nhạc nhảy.
Tiếp đó năm 1935, là thời của hai nhạc sỹ Tango nổi tiếng Juan: D'Arienzo và Rodolfo Biagi. D'Arienzo là một nghệ sỹ violon nhưng không nổi tiếng lắm, đến năm 1935 ông thành lập ban nhạc và tỏ rõ tài năng của mình với tư cách là một người đứng đầu ban nhạc và soạn nhạc. Cùng với Rodolfo Biagi, ông tạo ra một trường phái nhạc với tiết tấu nhanh hơn, pha các tiết tấu điện tử vào giai điệu Tango và ngay lập tức khiến cho những người chơi Tango say mê và ngưỡng mộ. Mặc dầu nhạc của D'Arienzo-Biagi không được lòng những người nghiên cứu âm nhạc Tango thời bấy giờ nhưng lại rất được ưa chuộng tại các sàn nhảy và tạo ra một trào lưu mới về Tango những năm 1930.
Năm 1935 được coi là thời kỳ bắt đầu của Thời kỳ vàng của Tango và thập kỷ tiếp theo được coi là thời hoàng kim của Tango với rất nhiều những sang tạo vượt bậc về mọi mặt. Điệu nhảy Tango trở thành một trong những điệu nhảy đôi quyến rũ nhất, tinh tế nhất và gợi tình nhất. Người soạn nhạc, người tổ chức, người viết nhạc, ca sỹ đều đạt đến đỉnh cao nhất trong Tango. Nhiều ban nhạc đình đám nhất của Tango đều xuất hiện vào thời điểm này: Anibal Troilo, Carlos Di Sarli, Miguel Caló, Lucio Demare, Alfredo De Angelis or Osvaldo Pugliese. Sự toả sáng ở lĩnh vực này làm nền cho lĩnh vực kia, tất cả hoà vào với nhau cùng đưa Tango lên đỉnh cao để đạt được những thành công vang dội nhất.
Tại thời điểm này thế giới Tango luôn nhắc đến ‚Guardia Nueva’ – đội quân tiền phong gồm những tên tuổi như:
Carlos Gardel (giọng); Osvaldo Pugliese, Roberto Firpo, Francisco de Caro (dương cầm); Julio de Caro, Francisco Canaro (vĩ cầm); Anibal Troilo, Osvaldo Fresedo, Pedro Maffia, Pedro Laurenz, Astor Piazzolla, Eduardo Arola, Agustín Bardi và Juan Carlos Cobián (bandoneon)...
Với nhân sự mỗi ngày hùng hậu hơn, giàn nhạc cho phép cá nhân có thể triển khai sở trường của mình. Mỗi tay đàn qua đó có cơ hội tự khoe sắc màu, diễn tả những ý nhạc khác nhau theo xúc cảm. Dòng nhạc không còn đơn điệu nữa, trái lại với phối khí hài hoà, người nghe vẫn cảm nhận được những dũng mãnh của một Eduardo Arola sống động hoặc của Agustín Bardi vui đùa, quyện vào đó những làn điệu lãng mạn của Osvaldo Fresedo.
Vào cuối những năm 1940, khi dòng nhạc Tango đã phát triển quá mạnh mẽ thành một dòng nhạc riêng, nhạc Tango và điệu nhảy bắt đầu tách rời nhau ra. Đó là khi các nhạc sỹ bắt đầu quan tâm đến việc sáng tác cho các thính giả nghe nhạc, để ghi âm và phát sóng. Các ca sỹ, cũng mong muốn trở thành các ngôi sao ca nhạc hơn là hát cho những người chơi Tango. Trong một thời gian, nhạc Tango và điệu nhảy bắt đầu đi song song tách rời nhau.
Đến năm 1955, một thể chế mới đánh đổ thể chế của Peron và thành lập một thể chế chính trị mới đã đẩy Tango vào một giai đoạn vô cùng khó khăn. Nhạc Rock and Roll thay thế cho nhạc Tango tràn ngập vào Achentina, các vũ trường bị đóng cửa và Tango chỉ còn là các bóng dáng lẩn khuất chui lủi. Các nhạc sỹ Tango bị đưa vào danh sách đen hoặc bỏ tù vì dính líu đến thể chế của Peron.
Năm 1950, một nhạc sỹ bandoneon tài năng tên Astor Piazzolla đã rời
Khi nhạc Tango Nuevo của Piazzolla được chơi tại
Sự đỗ vỡ của thể chế quân đội tại Achentina vào năm 1983, và sự thành công vang dội của loại hình Tango biểu diễn trên toàn thế giới đã đưa Tango trở lại thời kỳ vàng son. Sự quan tâm trở lại với Tango đã đưa nhạc Tango của thời kỳ vàng quay trở lại. Các đĩa CD về Tango tràn ngập đường phố, Achentina còn mở hẳn một kênh phát sóng trên radio và kênh FM chỉ dành riêng cho Tango. Thế hệ các nhạc sỹ và nghệ sỹ Tango mới phát triển loại hình Tango Nuevo và tìm tòi sáng tạo trên cả Tango truyền thống. Các nhạc sỹ Tango đi theo trường phái của Piazzolla nhưng không vì thế mà họ từ bỏ Tango truyền thống bởi vì họ cũng nhận thấy hầu hết mọi người đến với nhạc Tango đều thông qua điệu nhảy Tango.
Tango bắt đầu một thời kỳ mới.